Lễ hội đua thuyền truyền thống ở Phan Thiết

 Đến với Bình Thuận bạn có thể chứng kiến hình thức văn hóa đậm chất sông nước khi tham gia lễ hội đua thuyền diễn ra vào mồng 2 Tết nguyên đán với hai hình thức là đua thuyền và đua thúng.

Ảnh sưu tầm

Trong cái nắng ấm của mùa xuân, dòng Cà Ty bỗng chốc trở lên lộng lẫy, náo nhiệt bởi tiếng hò reo cổ vũ của hàng vạn khán giả xem hội. Dòng sông dậy sóng bởi hàng trăm tay chèo khỏe khoắn của các đội đua là những ngư nhân miền biển vốn thạo nghề sông nước.

                                                                        Ảnh sưu tầm

Lễ hội mừng xuân như những nốt nhạc vui hòa vào bài ca nhịp nhàng của thành phố Phan Thiết - Bình Thuận đang trên đà phát triển hướng đến tương lai.

Binh Thuan tourism

Share:
Continue Reading →

Những điều kiện để Đà Lạt trở thành nơi nghỉ dưỡng số 1

 Đà Lạt được đặt dấu mốc thời gian năm 1893 do bác sỹ Alexandre Yersin lần đầu tiên đặt chân lên cao nguyên Lâm Viên. Vùng đất này vốn là nơi cư trú của người Lạch. 

Ảnh sưu tầm

Nhưng lý do nào mà toàn quyền Đông Dương lúc đó muốn lệnh cho đi tìm những nơi đồi núi cao như vậy? Đó là họ muốn tìm nơi có khí hậu như châu Âu để công chức và binh lính Pháp nghỉ dưỡng trong những ngày nắng nóng và tránh các bệnh nhiệt đới cũng như hồi phục sức khỏe.

Vậy người ta đặt cho tiêu chuẩn miền đất hứa này là gì? Và Đà Lạt đã đáp ứng được đủ những yêu cầu đó và nó đã sớm trở thành thủ đô mùa hè của Đông Dương lúc bấy giờ. Đó là:

                                              Ảnh sưu tầm

Độ cao tối thiểu 1200 mét, nguồn nước dồi dào, đất đai trồng trọt được, khả năng thiết lập giao thông dễ dàng. Ngoài những điều kiện này thì Đà Lạt còn hơn thế, khí hậu mát khô mà không oi nóng bao giờ, địa hình thoải và rộng rãi, cảnh quan tuyệt đẹp với rừng thông, thác, suối, hồ nước, đồi, và núi xen nhau rất hài hòa. Tư vấn du lịch và thuê villa miễn phí Đà Lạt

Share:
Continue Reading →

Nét đẹp văn hóa các phiên chợ quê

Khi nói đến văn hoá làng xã, không thể không nhắc tới phiên chợ quê truyền thống. Ở tỉnh ta phiên chợ quê, từ lâu đã trở thành hình ảnh rất đỗi bình dị và quen thuộc trong cuộc sống thường ngày của người dân ở các vùng nông thôn. Cũng từ đây, những đặc điểm về kinh tế, phong tục tập quán, sinh hoạt cộng đồng, phong cách ứng xử, lời ăn tiếng nói của người dân được hình thành và phát triển. Ngày nay, hình ảnh phiên chợ quê gắn liền với những nét đẹp văn hoá, điều kiện kinh tế của từng vùng miền vẫn đang được gìn giữ và phát huy.

Huyện Nghĩa Hưng là địa phương có nhiều chợ quê truyền thống. Tiêu biểu như: Chợ Đào Khê (xã Nghĩa Châu), chợ Xuân (Thị trấn Liễu Đề), chợ Tất niên (Thị trấn Quỹ Nhất), chợ Nghĩa Bình, chợ Nghĩa Hải… Xã Hải Lạng, huyện Đại An xưa (nay là xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Hưng) là vùng đất cổ. Từ thế kỷ XIII, mảnh đất “Ba bề là sông, một bề là biển” này đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá của huyện Nghĩa Hưng. Đầu thế kỷ XIV khi dòng sông Đào trở thành tuyến giao thông Bắc - Nam quan trọng, một bộ phận dân cư Hải Lạng đã chuyển từ nghề nông sang buôn bán dịch vụ và thành lập nên 3 đình chợ lớn mang tên là chợ Hải Lạng. Chợ Hải Lạng họp phiên chính vào các ngày 1, 4, 7, 11, 14, 17, 21, 24, 27 hằng tháng, buôn bán nhiều mặt hàng như: tạp hoá, gạo, ngô, thuốc bắc, rượu, muối… Ngày nay, chợ Hải Lạng không còn đông đúc, sầm uất với quy mô lớn như xưa nhưng vẫn được nhân dân duy trì mở họp vào tất cả các ngày trong tháng phục vụ nhu cầu trao đổi các mặt hàng nông sản và ăn uống cho nhân dân.

Những ai có dịp đến xã Nghĩa Châu đều rất ấn tượng với quang cảnh chợ Đào Khê. Ngoài những nhu yếu phẩm hằng ngày như: rau, gạo, thịt thì sản phẩm nón lá là “đặc sản” được bày bán rất nhiều tại chợ. Theo thống kê, toàn xã có tới 70% hộ dân tham gia làm nghề nón. Trong đó, thôn Đào Khê Thượng và thôn Đào Khê Hạ có số hộ làm nón nhiều nhất. Trước kia chợ chỉ bán nón thành phẩm và các nguyên, phụ liệu để chế tạo nón như: tre, nan, mo nang, lá cọ, chỉ cước... Ngày nay, chợ vẫn bán những nguyên liệu gốc và cả nguyên liệu đã được chế biến sẵn để làm nón và nón đã thành phẩm. Chợ còn cung cấp nguyên liệu cho một số xã khác trong khu vực cũng làm nón như: xã Hoàng Nam, xã Nghĩa Minh, xã Nghĩa Thái… Ở Thị trấn Quỹ Nhất, suốt mấy mươi năm qua, những phiên chợ quê truyền thống ở địa phương vẫn được chính quyền và nhân dân trong thị trấn duy trì. Trong đó phải kể đến phiên chợ Tất niên họp từ ngày 24 đến ngày 30 tháng chạp hằng năm thu hút 70% hộ dân tham gia bán hàng tại chợ. Ngoài ra, 12 xã miền hạ huyện Nghĩa Hưng và các huyện có các làng nghề truyền thống như: Hải Hậu, Ý Yên, Nam Trực cũng đổ về bán và giới thiệu sản phẩm. Hàng hóa ở chợ được bày bán vô cùng phong phú với các mặt hàng cần thiết trong dịp cuối năm như: hoa quả, bánh kẹo, quần áo, nông cụ, cây cảnh… Ngoài ra, các sản phẩm: rượu gạo, chiếu cói, thảm đay mang thương hiệu Kim Sơn (Ninh Bình); măng nứa, măng tre, mật ong, khoai ráy, rong riềng từ các tỉnh miền núi phía Bắc hay dưa hấu, dừa xiêm mang đặc trưng của các tỉnh miền Nam cũng góp mặt tại phiên chợ.

Phiên chợ quê làng Dịch Diệp, Trực Chính, Trực Ninh - Nam Định

Ở huyện Giao Thuỷ, mỗi phiên chợ quê đều có những đặc điểm riêng biệt gắn với nền kinh tế đánh bắt hải sản. Tiêu biểu như: chợ Bể (xã Giao Nhân), chợ Bến (xã Giao Phong), chợ Đại Đồng (xã Giao Lạc)… Chợ Bể, xã Giao Nhân là một trong nhiều chợ của huyện được hình thành từ khá sớm (khoảng thế kỷ XVI). Đã trở thành quy định, một tháng chợ chỉ họp 6 buổi sáng các ngày: 4, 8, 14, 18, 24, 28 âm lịch. Với tổng diện tích gần 4 mẫu, Ban quản lý chợ đã bố trí sắp xếp các mặt hàng theo từng khu vực tiện cho cả người mua và người bán. Việc mua bán trao đổi hàng hoá khá nhộn nhịp với nhiều sản phẩm vùng miền khác nhau. Do đặc thù về mặt địa lý “trên bến dưới thuyền” nên sản phẩm được bán nhiều nhất tại chợ Bể chủ yếu là: cá, ghẹ. tôm, mực, sò, ngao… Các sản phẩm thủ công như: chiếu, nón, cây cảnh, cây thế… cũng rất phong phú, đa dạng. Trong đó, sản phẩm được nhiều người quan tâm nhất là: cây hoa, cây giống, cây ghép các loại… Các cây chanh, quất giống được bán với giá từ 15-25 nghìn đồng/cây, hoa hồng nhung, hồng tỷ muội có giá từ 20-40 nghìn đồng/cây. Ở chợ, mặt hàng chiếu cói và nón lá với các sản phẩm: chiếu cói trắng, chiếu in hoa, chiếu đậu, chiếu chiêm, nón 1 lớp, nón 2 lớp, nón thêu, nón in… được bày bán ở hàng chục gian hàng. Chiếu và nón được nhiều người chọn mua nhất là các thương hiệu như: chiếu cói, nón lá Nga Sơn (Thanh Hóa), nón lá (Huế), chiếu Đậu (Thái Bình, Ninh Bình) và một số sản phẩm làng nghề của các huyện Xuân Trường, Hải Hậu. Các sản phẩm đều có giá bán hợp lý, trung bình từ 150-500 nghìn đồng/đôi chiếu, 30-70 nghìn đồng/chiếc nón. Ngoài ra, các mặt hàng nông sản như: rau, củ, quả, gia súc, gia cầm, quần áo, vải vóc; mặt hàng kim khí như: dao, kéo, liềm, cuốc, xẻng cũng được bày bán phong phú và được đưa về tại những vùng sản xuất nổi tiếng trong và ngoài huyện.

Ở huyện Hải Hậu, thông thường mỗi xã đều có ít nhất một chợ nhỏ, vài xã có một chợ lớn thường họp theo phiên gọi là chợ huyện. Tiêu biểu như: chợ Đông Biên (xã Hải Bắc) họp vào ngày mồng 5 và mồng 9 âm lịch, chợ Quán (xã Hải Hà) họp vào ngày mồng 3 và mồng 7 âm lịch, chợ Cồn (Thị trấn Cồn) họp vào các ngày chẵn trong tháng, chợ Thượng Trại (xã Hải Phú) họp vào các ngày lẻ trong tháng...

Ở các huyện Trực Ninh, Xuân Trường, các phiên chợ quê thường gắn liền với những ngôi làng cổ có lịch sử tồn tại hàng thế kỷ như: chợ làng Dịch Diệp, Cự Trữ, Cổ Lễ (Trực Ninh); chợ làng Hành Thiện, Kiên Lao (Xuân Trường)… Thời gian đầu chỉ là những phiên họp nhỏ với ít người trong vùng, hàng hóa chủ yếu là tại các địa phương lân cận mang về trao đổi, buôn bán, dần dần người dân đã đa dạng hoá các mặt hàng “tự cung tự cấp” đáp ứng với nhu cầu phục vụ đời sống cộng đồng. Hình ảnh đông đúc, tấp nập của các phiên chợ quê ẩn mình sau những luỹ tre làng, cổng làng, cây cầu, mái đình, nếp nhà cổ kính cùng những quán cóc dưới gốc đa, gốc gạo đã ăn sâu vào tiềm thức, tâm hồn của người dân. Như một bức tranh xã hội thu nhỏ, các phiên chợ của mỗi vùng quê ngoài thực hiện vai trò chính là nơi giao thương thì còn là nơi gặp gỡ, hỏi thăm sức khoẻ, trao đổi, lan truyền thông tin của người dân nông thôn góp phần thắt chặt tình làng, nghĩa xóm, tình cảm con người.

Trong cuộc sống hiện đại hôm nay, nhiều trung tâm thương mại, siêu thị mọc lên san sát, có quy mô lớn, hình ảnh phiên chợ quê truyền thống đang dần bị thay thế. Tìm về không gian của những phiên chợ không còn là thói quen của nhiều người, nét đặc trưng văn hóa vùng miền cũng không còn được thể hiện rõ nét ở những phiên chợ hiện đại. Nhưng có lẽ, đối với những người dân quê, phiên chợ quê vẫn là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa với những hình ảnh mộc mạc, gần gũi, thân quen và là nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa của vùng miền cần được bảo tồn và phát huy./.

Bài và ảnh - Khánh Dũng
Báo Nam Định
Share:
Continue Reading →

Lôi cuốn Pú Đao

Phấn khích, ngỡ ngàng hay vội vàng chuẩn bị ống kính… là những trạng thái cảm xúc khác nhau của chúng tôi khi đặt chân tới đỉnh núi Pú Đao - điểm ngắm cảnh sơn thủy hữu tình thuộc xã Pú Đao, huyện Nậm Nhùn. Được ví như chốn bồng lai tiên cảnh, với bốn bề núi sông hội tụ mang đến cảm giác đất và trời như được nối liền. Miền đất vùng cao Pú Đao hoang sơ, thanh bình, những chủ nhân nơi đây bình dị và mến khách.

Chỉ tay vào những vết tích mờ nhạt còn xót lại, ông Giang A Lù, bản Nậm Đoong bồi hồi nhớ lại: Trước đây, có một sân bay dã chiến do người Pháp xây dựng ở đây với nhiều công sự bằng đá, nhưng giờ đã mai một, không còn mấy ai nhắc tới nữa. Du khách đến Pú Đao ngoài thăm thú những nét văn hóa đặc trưng hầu hết đều tìm đến đỉnh Pú Đao cao ngất kia, trên đó được ví như thiên đường. Cảm nhận được nắng ấm, gió, mây bay và ngắm dòng sông Đà quanh co, uốn lượn như dải lụa, ngút ngàn màu xanh của đại ngàn... Theo tiếng Mông, Pú Đao nghĩa là “điểm cao nhất”. Ông Lù cho biết thêm, trước kia người Mông nơi đây có câu nói truyền nhau "Không có đỉnh núi nào cao hơn đầu gối người Mông" - đó là khát vọng chinh phục những đỉnh núi cao và thể hiện tập quán thích sinh sống trên núi của người bản địa.

Năm 2006, hãng du lịch Gecko Travel (của Anh) bầu chọn Pú Đao là một trong 5 điểm leo núi hấp dẫn nhất Đông Nam Á với vẻ đẹp hoang sơ và thân thiện. Gecko Travel cho rằng: “Lợi thế của Pú Đao là chưa có nhiều du khách đặt chân tới. Nơi đây còn giữ được vẻ nguyên thủy của cảnh quan, sự chất phác của con người. Những cô gái Mông xinh đẹp trong đụm váy truyền thống dập dìu múa hát bên những chàng trai người Mông rắn rỏi say sưa ôm khèn, những đứa trẻ ngây thơ với đôi mắt sáng, to tròn hay e thẹn”. Trên trang web du lịch quốc tế gonomad.com, Siobhan McGeady cũng ca ngợi Pú Đao là một điểm đến đẹp bất ngờ và thân thiện. Thời điểm đó, khách đến du lịch Pú Đao sẽ leo núi đường dài đến thẳng bản Nậm Đoong, là một bản Mông có sức hút đặc biệt, độc đáo bởi những ngôi nhà được làm bằng gỗ, mái lợp bằng cỏ tranh, tập quán canh tác truyền thống, trang phục và bản sắc văn hóa còn thuần khiết. Tuyến đường mòn lên bản sẽ dẫn bước du khách qua những thung lũng chân mây, xung quanh bạt ngàn hoa dại và nương rẫy… Giờ đây, để thuận lợi cho đời sống bà con, bản Nậm Đong xưa đã di chuyển về gần trung tâm xã.

Dòng sông Đà êm đềm

Theo chân cán bộ kiểm lâm Quách Văn Thu - với kinh nghiệm gần 20 năm mòn gót trên các nẻo đường rừng, nhiệm vụ cao cả bảo vệ rừng cùng đam mê chinh phục những điểm cao đã níu giữ người cán bộ gắn bó với miền đất vùng cao Pú Đao khó khăn, xa xôi. Anh Thu tâm sự: Trước đây, muốn leo lên đỉnh Pú Đao phải đi bộ từ lúc trời còn mờ tối đến khi hoàng hôn mới lên tới đỉnh, mệt nhưng thú vị lắm, thành quả đạt được là lúc hoàng hôn, khi ấy ông mặt trời sắp lặn, tranh thủ tỏa những tia nắng cuối ngày nơi chóp núi, cùng với mây, gió và đại ngàn tạo nên khung cảnh đẹp đến mê người.

Hành trình leo núi của chúng tôi bắt đầu từ bản Nậm Đoong xưa, con đường mòn thêm thơ mộng với bạt ngàn nương nghệ trổ hoa trắng hồng xen kẽ những nương lê, nương xoài đang đua nhau đâm chồi nảy lộc, thi thoảng lại bắt gặp những khoảng hoa dại với đủ sắc màu. Từng đàn gia súc thung thăng gặm cỏ trong khung cảnh hoang sơ dưới cái nắng vàng tạo cảm giác rất đỗi thanh bình. Con đường mòn một bên là núi cao, một bên là vực sâu, có những đoạn đường dốc thẳng đứng, chúng tôi phải kéo tay nhau mới qua nổi, càng lên cao không gian liên tục thay đổi theo sự quanh co của cung đường. Đặt chân lên điểm cao nhất ở Pú Đao mới cảm thấy ý nghĩa thực sự của hành trình, cảnh sắc bao la, hùng vĩ với bốn bề núi sông hội tụ.

Từ điểm này nhìn xuống phía Đông và 2 bên Đông Nam, Đông Bắc, dòng sông Đà chảy từ Tây Bắc hòa với dòng Nậm Na tạo nên một ngã 3 sông huyền thoại với những địa danh như: Lai Hà, Hang Tôm, Đồi Cao, Mường Lay, Lê Lợi, dòng sông cắt ngang 2 dãy núi tạo thành một chữ V rất lớn. Người dân bản địa cho biết: Trong một năm, có vài ngày mặt trời mọc từ chính giữa chữ V đó. Lúc ấy, mặt trời thấp hơn so với những dãy núi xung quanh tạo thành cảnh tượng kỳ thú, phía trên còn mờ tối mà phía dưới đã sáng lấp lánh. Những ngày còn lại trong năm, bình minh nơi đây hấp dẫn khi những tia nắng đầu tiên ló rạng từ lưng chừng núi, xuyên qua màn sương giăng mây phủ, xuyên thẳng xuống mặt sông Đà lấp lánh.

Đứng trên điểm cao nhìn chếch về phía bên trái là dòng Nậm Na, là những cánh đồng trù phú, màu mỡ của xã Chăn Nưa. Nhìn sang phía bên phải là hướng về ngọn nguồn dòng Đà Giang, công trình Thủy điện Lai Châu sừng sững mà uy nghi. Bắt đầu phía bên trái điểm cao có một dãy núi thoải xuôi theo hướng sông Đà rồi bất ngờ thẳng đầu vươn dậy, nhìn như một chú chim đại bàng với chiếc đầu dũng mãnh. Nhìn nghiêng từ bên phải quả núi, toàn cảnh như một chú hổ ngồi canh gác. Hướng mà cánh chim đại bàng che chở (hay chú hổ ngồi canh) chính là di tích khi xưa Vua Lê Thái Tổ khắc bia tạc vào sử sách, hội tụ linh khí đất trời, đánh dấu chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. Quả đúng như lời đồn, một thiên đường trong mơ, trong khung cảnh đẹp mê ly ấy, chúng tôi quây quần bên mâm cơm bằng lá rừng với lương khô, nồi cơm nóng mà sậm sật vì thiếu nhiệt, cá khô và nước lọc nghe bà con kể những câu chuyện thời xưa, khi người Mông sông sáo khai hoang ruộng nước, chinh phục những đỉnh núi cao.

Nói về du lịch ở Pú Đao, Chủ tịch UBND xã Chá A Thứ cho biết: “Pú Đao có 98% là người Mông, người dân nơi đây chất phác và mến khách. Bà con thường nhường du khách chủ động làm quen rồi mới ân cần đón tiếp. Từ trước tới nay, đa phần bà con trong xã đều cho du khách nghỉ lại mà không lấy phí, khách du lịch rất thích thú và phấn khích mỗi khi có dịp tới thăm, tuy nhiên lượng khách đến với Pu Đao còn ít”.

Những năm gầy đây, nhà nhà chung tay cùng các cấp chính quyền xây dựng nông thôn mới, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ hơn, những ngôi nhà kiên cố, khang trang thi nhau mọc lên, những con đường trải bêtông nối tới các bản. Đời sống vật chất, tinh thần của bà con được nâng lên, người dân thi đua phát triển kinh tế, giữ vững an ninh trật tự, các nét văn hóa truyền thống được lưu giữ cùng với việc người dân tích cực trồng và giữ rừng đã giúp Pú Đao giữ được nét độc đáo của một xã vùng cao xa xôi.

Chia tay Pú Đao, chúng tôi không thể nào quên những cái ôm thật chặt của bà con người Mông bản sứ, cái bắt tay lưu luyến không nỡ rời của những cán bộ kiểm lâm, hẹn Pú Đao thơ mộng mà thanh bình một ngày gần nhất.

Tuấn Hùng
baolaichau.vn
Share:
Continue Reading →

Làng cổ Thanh Khê

Làng Thanh Khê, xã Nam Cường (Nam Trực) là vùng đất cổ được hình thành cách đây hơn 1.000 năm. Từ một vùng quê dân cư thưa thớt, đến nay làng Thanh Khê có gần 2.000 nhân khẩu thuộc 13 dòng họ; trong đó, nhiều dòng họ sinh sống ở làng trên 30 đời như: họ Đoàn, họ Vũ, họ Lê, họ Phạm và một số dòng họ nhỏ sinh sống từ 6-7 đời như: họ Thiều, họ Nguyễn... Các dòng họ ở Thanh Khê có truyền thống văn hóa - hiếu học, người dân cần cù, chịu khó, luôn đoàn kết, yêu thương, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Trong sinh hoạt, từ việc “công” đến việc “tư”, người làng Thanh Khê luôn đề cao 2 chữ “liêm” và “sỉ” để ý thức hành động, ứng xử của bản thân, sống liêm khiết, không vi phạm pháp luật, văn minh, tiết kiệm, chăm lo cuộc sống gia đình và đóng góp thiết thực cho xã hội.

Trải qua hơn 10 thế kỷ, các thế hệ người dân ở Thanh Khê vẫn gìn giữ, kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục tập quán cộng đồng. Dân làng Thanh Khê toàn tòng theo đạo Phật, có đời sống tâm linh phong phú, luôn coi trọng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thờ nhân thần. Làng có hệ thống di tích dày đặc; đặc sắc nhất là Cụm di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh với lịch sử khởi lập gần 1.000 năm, gồm: Chùa Hinh Lang, Đền Thành Hoàng, Phủ Thiên Tiên Thánh Mẫu, Động Thanh Am. Đền Thành Hoàng thờ Đức Bản cảnh Thành Hoàng - Chiêu Minh Viện phi Công chúa. Sự tích về bà được sách “Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược” của Khiếu Năng Tĩnh ghi lại: Vào thời Lý, tại xã Thanh Khê, huyện Nam Chấn có người con gái họ Vũ, tên là Phương Dung, lúc sinh ra khí lành tỏa khắp nhà. Khi lớn lên, nàng đi tới đâu cũng có đám mây hình chiếc lọng che, trời nắng bỗng hóa râm, trời mưa cũng thành tạnh. Sau này bà trở thành Nguyên phi của vua Lý. Sau khi bà mất, Vua Lý Anh Tông vô cùng thương xót, truy tặng làm Hoàng phi và cho thuyền rồng đưa linh cữu về làng Thanh Khê an táng. Dân làng Thanh Khê đã lập đền thờ phụng ngay tại nơi yên nghỉ của bà. Tại tòa trung đường Đền Thanh Khê vẫn còn đôi câu đối ghi nội dung sự tích trên: “Vân tản triệu tường Tiên ứng hiển/ Long chu quy tặng Đế ân thâm” (Mây tỏa điềm lành Tiên hiển ứng/ Thuyền rồng ban tặng nhớ ơn Vua). Hàng năm, làng Thanh Khê diễn ra nhiều lễ hội tại các di tích, nhưng đông vui và hội tụ nhiều trò chơi dân gian độc đáo là dịp chính hội mồng 9-3 (âm lịch). Vào ngày này, bà con trong làng tạm gác công việc đồng áng, tham gia vào các hoạt động lễ hội như: tế lễ, rước kiệu, thi đánh cờ tướng, cờ người, chọi gà...


Trong số những trò chơi dân gian ở làng Thanh Khê thì chơi đu tiên mỗi dịp đầu Xuân mới thu hút đông già trẻ, trai gái trong làng tham gia. Trò chơi đu tiên tại sân Đền Thành Hoàng từ lâu đã trở thành phong tục, nét đẹp văn hóa in sâu vào tiềm thức của người dân địa phương. Từ những ngày cận tết, các cụ già cao tuổi có kinh nghiệm dựng cây đu của làng đã đi tìm, chọn những cây tre già, dẻo dai để làm cây đu. Giàn đu gồm 4 cây tre to, thẳng cắm xuống đất tạo thành 2 trụ đỡ. Tre làm trụ biểu trưng cho sự vững chãi, chắc chắn nên làng chỉ chọn tre của gia đình nào có cuộc sống viên mãn, con cái ngoan ngoãn, học hành tiến bộ. Thượng đu làm bằng 2 thanh tre ngang nối 2 phần trụ với nhau. Nhà nào làm kinh tế giỏi được chọn cây tre bánh tẻ nhỏ hơn, nhẵn nhụi vừa với tay cầm để làm bộ ròng rọc và tay vịn của đu. Phần mõ đu là tre có độ bền, chắc được chọn từ gốc tre già mọc ở vườn nhà các cụ cao tuổi. Cụ Vũ Văn Nghiễn (85 tuổi), người nhiều năm được dân làng tín nhiệm phụ trách việc làm đu kể: Mỗi bộ phận của cây đu đều mang một ý nghĩa tượng trưng đặc biệt nên cả làng chỉ hơn chục hộ được góp tre làm đu. Vào thời khắc Giao thừa, cả làng tề tựu trước sân đền làm lễ đưa đu. Cụ cao niên được làng trọng vọng nhất ăn vận quần áo chỉnh tề, chủ trì lễ đưa đu kính cẩn dâng hương, đọc bài văn tế. Sau đó, một cao niên còn đủ sức khoẻ được dân làng tiến cử bước lên cây đu mở màn. Nam nữ trong làng chơi đu cho đến hết tháng Giêng mới hạ đu. Không chỉ là trò chơi dân gian đầu xuân mang tính chất vui chơi, giải trí, trò chơi đu tiên còn mang ý nghĩa gửi gắm ước nguyện về một năm mới mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Làng Thanh Khê là vùng đất có sản vật nông nghiệp phong phú như: lúa, ngô, khoai, sắn, đậu, đỗ và rau màu; đặc biệt là hàng chục mẫu đất trồng chè xanh từ hàng trăm năm trước. Cây chè Thanh Khê có chiều cao từ 2-5m, lá xanh bóng, to, có răng cưa, gân lá nổi. “Tháng dư, ngày rảnh”, các cô, các bà làng Thanh Khê lại rủ nhau hái chè mang ra chợ bán. Xưa kia 1 nón chè có giá trị tương đương với 1 ống gạo (0,8kg). Để hãm được ấm nước chè xanh có hương vị đượm, ngọt dịu thì việc pha chế đúng công thức là bí quyết của người dân nơi đây. Sau khi hái, lá chè được rửa sạch, thái nhỏ, chiều dài của mỗi đoạn chừng 2 đốt ngón tay rồi cho vào ấm sành với số lượng lá đầy chạm nắp ấm. Sau đó đổ nước sôi để rửa qua, nhân dân địa phương gọi nôm na là “làm lông” lá chè. Tiếp theo tráng, đổ đầy nước sôi vào ấm, đậy kín nắp và vòi ấm, ủ ấm trong giỏ tre khoảng 15-20 phút cho chè chín là được ấm chè ngon. Chè xanh làng Thanh Khê nổi tiếng vì nước xanh, hương thơm, vị ngọt thanh, đậm nên cứ thu hoạch đến đâu là bán hết ngay đến đấy.

Khách buôn từ khắp các xã, thị trấn lân cận kéo về đặt mua ngay tại vườn. Ngày nay, với sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến chè, nhiều loại chè chế biến ra đời, bày bán rộng rãi trên thị trường nhưng nước chè xanh Thanh Khê vẫn là thứ đồ uống thông dụng truyền thống của người dân nơi đây và bất kỳ ai đã một lần đến thăm làng Thanh Khê đều được thưởng thức và nhớ mãi.

Cùng với việc canh nông, dân làng Thanh Khê luôn chăm lo cho sự nghiệp học hành của con em trong làng. Làng Thanh Khê từ xưa đến nay “nổi danh” là làng giáo viên với nhiều người công tác trong ngành giáo dục và đào tạo. Hiện trong làng có hơn 100 nhà giáo các bậc học; trong đó, nhiều người là giảng viên của các trường Đại học, Cao đẳng trên cả nước. Là địa phương đi đầu trong phong trào “Khuyến học - khuyến tài” của huyện, cứ vào mồng 4 Tết Nguyên đán dân làng Thanh Khê lại tưng bừng tổ chức “Ngày hội khuyến học”. Trước giờ khai hội, tại đền làng, các bậc cao niên trong làng làm lễ dâng hương tưởng nhớ Thành Hoàng, báo cáo thành tích học tập của con cháu, tôn vinh, khen thưởng những học sinh, sinh viên đạt thành tích cao trong học tập; đồng thời động viên, khích lệ các gia đình, dòng họ tạo điều kiện để con cháu học hành ngày càng tiến bộ, làm tốt công tác khuyến học - khuyến tài, góp phần xây dựng mô hình “Gia đình hiếu học”, “Làng quê hiếu học”. Những gia đình có con em học tập đạt thành tích cao sẽ được Ban Khuyến học của làng tặng giấy khen. Trong dịp này, làng cũng tổ chức lễ mừng thọ cho những người cao tuổi trong làng. Qua đó giúp thế hệ trẻ hiểu thêm về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, ý thức hơn về trách nhiệm của bản thân trong việc gìn giữ, phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống quê hương.

Trải qua thời gian với những thăng trầm lịch sử, làng cổ Thanh Khê hôm nay đang dần đổi thay, phát triển không ngừng trong công cuộc xây dựng nông thôn mới nâng cao, bền vững. Vẻ đẹp cổ kính, thơ mộng đặc trưng của một làng quê vùng đồng bằng Bắc bộ với những giá trị văn hoá truyền thống của quê hương vẫn được các thế hệ người dân Thanh Khê gìn giữ, bảo tồn và phát huy trong cuộc sống hiện đại, tạo thành sức mạnh nội lực dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Bài và ảnh - Khánh Dũng
Báo Nam Định
Share:
Continue Reading →

Cầu ngói, chùa Lương, Đình Phong Lạc của Hải Hậu - Nam Định

(VOV5) - Cầu Ngói, chùa Lương, đình Phong Lạc, nằm trên địa phận xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, có kiến trúc cổ độc đáo, mang đậm dấu ấn của những nghệ nhân tài hoa nơi đây. Cụm di tích này được xây dựng gắn liền với công cuộc khai hoang lấn biển 500 năm trước của những người đã khai khẩn mảnh đất Quần Anh xưa, nay là huyện Hải Hậu. Trải qua hàng trăm năm, cụm di tích cầu Ngói, chùa Lương, đình Phong Lạc vẫn còn khá nguyên vẹn.

Nằm trên con đường dẫn vào chùa, cầu Ngói cách chùa Lương, đình Phong Lạc khoảng 100m, trở thành một cụm di tích nổi tiếng của vùng đất này. Cả ba công trình đều có cùng niên đại xây dựng nên người dân quen gọi là cầu Ngói, chùa Lương, đình phong Lạc. Bà Nguyễn Thị Nhâm, người dân xã Hải Anh, cho biết. "Chùa Lương, đình Phong Lạc, cầu Ngói là cụm di tích lịch sử của xã Hải Anh. Tất cả những di tích này ở đây đều còn nguyên vẹn. Cây cầu Ngói này cong cong rất là đẹp. Ngày hội rằm tháng 3, là ngày hội truyền thống của làng".

Ảnh sưu tầm - Cầu Ngói chùa Lương

Cầu Ngói được bắc qua con sông Trung Giang, một con sông nhỏ chạy dọc theo xã Hải Anh và được xây dựng theo lối “thượng gia hạ trì”, (trên là nhà dưới là song). Cầu có 9 gian được dựng trên 18 cột đá vuông. Phía trên cột đá là hệ thống xà ngang, xà dọc bằng gỗ lim to chắc để đỡ dầm cầu và nâng sàn cầu. Mái cầu lợp ngói vảy rồng, có hình dáng cong cong tựa như mình rồng đang uốn khúc. Cầu ngói không chỉ là công trình giao thông mà còn là công trình văn hóa, niềm tự hào của người dân xã Hải Anh. Bà Trần Thị Dịu. người dân ở Hải Anh chia sẻ: "Trước dãy nhà phải trên này có từ ngày xưa nhưng nhỏ hơn. Ngày xưa không có nhiều ô tô, toàn đi bộ qua đây. Trước đường thấp hơn đây nhiều, phải qua ba bậc đá mới lên được cầu. Bây giờ tôn đường cao, giờ đường lại cao hơn cầu. Cây cầu Ngói này có mấy trăm năm rồi. Gia phả của các cụ trong làng để lại nói rằng: Hỏng cầu ta lại sửa cầu/ ba mươi lượng bạc để đầu bên kia, nếu cầu hỏng thì có 30 lượng bạc đó dùng để sửa cầu".

Phần mộc của cầu Ngói chạm khắc không cầu kỳ nhưng thể hiện rất rõ kiến trúc thuần Việt. Đặc biệt là qua sự bố trí các hàng chân cột, các kết cấu vì kèo và cách ghép mộng gỗ… Phần nề cũng khá đặc biệt nhất là phần cổng ở hai đầu cầu. Cổng được xây dựng theo lối cửa vòm một lối, hai bên có hai hàng cột. Ngày nay, bên cạnh cây cầu Ngói có nhiều cây cầu đá được xây dựng nhưng người dân ở đây, nhất là các bạn trẻ lại luôn chọn cầu Ngói là điểm hẹn.Nguyễn Thanh Phương, học sinh cấp 3 của xã Hải Minh, xã giáp với Hải Anh, cho biết: "Ở đây mát và đây là di tích nên thích ra đây. Thường thường em đi học về sớm thì thường ra đây ngồi. Thường thường chúng em cũng hẹn nhau ở đây vì ai cũng biết địa điểm này vì nó nổi tiếng, cây cầu cổ và đẹp".

Ảnh sưu tầm

Trước khi vào thăm đình Phong Lạc, chùa Lương, là khu chợ quê, nơi tụ họp đông đúc của người dân xã Hải Anh. Đình Phong Lạc được làm từ khi thủy tổ mở đất dựng làng và nơi để hội họp, bàn các việc của làng xã. Khi tiền nhân đến đây dựng làng thì thấy mảnh đất có hình “Long ngọa” tức là hình con rồng nằm. Phía trước đình có cái giếng gọi là mắt rồng. Cụ ông Đặng Văn Phú, 86 tuổi người trông nom cụm di tích này kể rằng mấy trăm năm trước, thủy tổ một số họ như Vũ, Hoàng, Phạm, Trần chọn nơi đây định cư. Sau con cháu tưởng nhớ các bậc thủy tổ đó và tôn làm thành hoàng, thờ cúng trong đình Phong Lạc.

Bên cạnh là chùa Lương hay còn gọi là chùa Trăm gian, được xây dựng vào cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16. Chùa Lương lúc đầu có quy mô nhỏ, trải qua nhiều lần trùng tu, mở rộng, đặc biệt là những lần trùng tu lớn vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Hiện chùa có quy mô khá lớn, gồm 100 gian, mang phong cách kiến trúc của nhiều thời đại, nhưng rõ nét vẫn là phong cách của thế kỷ 17 và 18. Chùa hiện còn lưu giữ một khối lượng lớn văn bia ghi công đức xây dựng chùa và quá trình khai hoang lấn biển, phản ánh đời sống nhiều mặt của người dân nơi đây. Cụ ông Đặng Văn Phú cho biết cùng với chùa Lương, cầu Ngói, đình Phong Lạc đã tạo thành một quần thể di tích, tâm linh đã đi vào ca dao tục ngữ. "Bắt đầu trước là trên bến dưới thuyền. Ở đây có câu ca: Quần Anh nổi tiếng từ xưa/Biển đình Phong Lạc bia chùa Phúc Lâm/ Khách về khách vẫn hỏi thăm/Nước chè cầu ngói, tơ tằm chợ Lương…" - cụ Phú nói.

Tồn tại và kết tinh giá trị văn hóa dân tộc hàng trăm năm, cầu Ngói, chùa Lương, đình Phong Lạc là những di sản tinh hoa của vùng đất Nam Định văn hiến. Biết bao thế hệ người dân ở đây đã nâng niu, gìn giữ bảo tồn những công trình văn hóa đặc sắc này để cho hậu thế những giá trị kiến trúc, mỹ thuật đậm bản sắc Việt Nam.

Lan Anh
Share:
Continue Reading →

Những làng villa bình yên bên hồ Tuyền Lâm ở Đà Lạt

 Hồ Tuyền Lâm cách trung tâm Đà lạt khoảng 7 km, ngay dưới thiền viện Trúc Lâm, nơi đây không chỉ là danh thắng mà còn được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. Danh thắng hồ Tuyền Lâm hội tụ đầy đủ những yếu tố du lịch tổng hợp như nghỉ dưỡng, ngắm cảnh, sinh hoạt cộng đồng, tâm linh...Đến đây bạn có thể cắm trại, đi bộ, leo núi, câu cá, vui chơi, nghỉ dưỡng, thiền và yoga...Hồ Tuyền Lâm có đủ núi, rừng, suối, mặt nước, thác, và cách đó không xa là Thiền viện Trúc Lâm. 

Sam Tuyền Lâm Resort - Những căn biệt thự bên hồ màu trắng mang phong thái kiến trúc miền quê nước Pháp, có phong thủy đẹp; lưng tựa núi và mặt hướng hồ bình yên bên rừng thông, những khóm hoa muôn màu khoe sắc. Đặt phòng giá tốt Sam Tuyền Lâm Resort xin liên hệ với chúng tôi.


K'lan resort - Nằm ngay bên hồ Tuyền Lâm với view đồi thông hoặc mặt hồ yên bình, K'lan resort thích hợp với những du khách cần nghỉ dưỡng, yêu thiên nhiên và yoga sẽ là nơi nghỉ lý tưởng. Nơi đây cũng gần đường hầm đất sét và vườn hoa Mimosa, phục vụ những món chay ngon. Những căn biệt thự xinh xắn và dịch vụ thân thiện sẽ làm hài lòng du khách. Liên hệ đặt K'lan Resort giá tốt nhất


Dalat Wonder Resort - nằm sát bên một nhánh của hồ Tuyền Lâm, đi vào hoạt động năm 2016, Wonder Resort Đà Lạt bao gồm 19 biệt thự, và 45 phòng khách sạn phục vụ chuyên nghiệp theo phong cách châu Âu sẽ mang lại sự hài lòng cao nhất cho quý vị. Bạn đến đây với những trải nghiệm chèo thuyền, câu cá, nghỉ dưỡng và yoga. Tư vấn miến phí đặt phòng Đà Lạt Wonder Resort



Binh An Village Resort - nằm ẩn mình bên hồ Tuyền Lâm quanh năm thông reo rì rào, những biệt thự kiến trúc pha trộn văn hóa châu Âu và bản địa, những khóm hoa được chăm sóc tỉ mỉ nơi đây chắc chắn làm nao lòng lữ khách phương xa. Mỗi villa mang tên một loài hoa thật kiều diễm, có diện tích trung bình 178 m2, rất thích hợp cho kỳ nghỉ gia đình của bạn. Tìm giá tốt villa Hồ Tuyền Lâm 


Sam Tuyền Lâm Golf and Resorts
- Cũng nằm cạnh hồ Tuyền Lâm, khu nghỉ dưỡng cao cấp đáp ứng cho những người yêu Golf muốn hưởng thụ không gian thanh bình như một châu Âu. Sân Golf 18 lỗ tiêu chuẩn quốc tế, phòng nghỉ sang trọng ngay bên thung lũng danh thắng quốc gia Hồ Tuyền Lâm chắc chắn mang lại sự hài lòng về sở thích Golf cũng như kỳ nghỉ của bạn. Đặt phòng và chơi golf tại Sam Tuyền Lâm



Terracotta Resort Dalat - Nằm bên hồ Tuyền Lâm được bao trọn bởi một ốc đảo xanh mát với những rặng thông rì rào, 240 phòng nghỉ từ tiêu chuẩn đến hạng sang, 21 villa, Terracotta có số lượng phòng nghỉ lớn nhất tại nơi đây. Tất cả các phòng nghỉ đều có cửa sổ hướng vườn, rặng thông hay hồ để mang trọn Đà lạt mông mơ đến cho bạn trong mỗi khoảnh khắc. Khu nghỉ dưỡng đáp ứng được các đoàn nhỏ cho đến các đoàn lớn về hội thảo. Tư vấn tour và hội thảo tại Terracotta Đà Lạt



Edenssee Lake Resort and Spa - Nằm ngay bên hồ Tuyền Lâm và những rặng thông xanh ở độ cao 1500 m, với thiết kế sang trọng 5 sao đẳng cấp châu Âu thì đây là nơi nghỉ dưỡng sinh thái sang trọng bậc nhất của phố núi Đà Lạt. Không khí khô, mát quanh năm, sắc hoa rực rỡ, khung cảnh yên bình bên danh thắng quốc gia này sẽ mang lại trải nghiệm khác biệt đáng nhớ. Đặt phòng 5 sao Đà lạt giá tốt nhất


Swiss Belresort Tuyền Lâm - Nằm ngay hồ Tuyền Lâm - hồ nước ngọt nhân tạo lớn nhất Đà Lạt, lưng tựa núi, và thiết kế sang trọng kiểu Âu mang đặc trưng miền quê Anh - Pháp với số lượng phòng là 151 thì đây là một trong những khách sạn sang trọng bậc nhất thành phố và khung cảnh lãng mạn bậc nhất luôn. Hơn nữa Swissbel Đà lạt còn nằm bên sân Golf 18 lỗ, là nơi lý tưởng bậc nhất Việt nam dành cho các golf thủ nữa nhé. Đặt phòng hạng sang giá tốt Swissbel Đà lạt



Share:
Continue Reading →